Tin mới

Chuyển giao Kỹ thuật trồng Cam Cara Cara cho huyện Đơn Dương

21/03/2016

1. Điều kiện thổ nhưỡng

Cam Cara cara thích hợp với khí hậu ấm từ 23-29°C,

Cam phù hợp với nhiều loại đất: phù sa cổ, ba – zan, phiến thạch, dốc tụ... Đất trồng cam phải có tầng dầy trên 1m, đất thoái nước tốt, giàu  mùn và giàu chất dinh dưỡng có pH từ 6-6,5.

2. Chuẩn bị đất và cây giống

2.1. Chuẩn bị đất

Đất phải được làm sạch cỏ dại.

Đối với cam Cara cara: đào hố có kích thước: 80cm x 80cm x 80cm. Khoảng cách các hố 4m x 5m; (lượng cây trung bình trên 1ha là 450 cây)

Đối với cam đường canh: Đào hố có kích thước: 60cm x 60cm x 60cm. Khoảng cách các hố 3m x 3m

Trộn đều các loại phân bón lót (không có vôi và thuốc BVTV) và các lớp đất mặt đã đào lên, lớp đất ở giữa để riêng. Trả lại lớp đất dưới xuống hố, tiếp đó lấp phân và đất đã trộn xuống hố, dùng cuốc phá thành hố sau đó rải vôi lên mặt hố và lấp đất mỏng 2-3 cm. Tiếp đó bơm nước vào đầy hố, khoảng 10-15 ngày sau bón thuốc trừ sâu bột trên mặt hố, dùng cuốc đảo trộn đều để khoảng 15 ngày sau là trồng cây.

2.2. Cây giống

Cây giống xanh, sạch bệnh, cây giống có chiều cao 40cm.

3. Phương pháp trồng và chăm sóc

3.1. Cách trồng

Vét một hố nhỏ ở giữa các hố đã được chuẩn bị từ trước, đặt bầu vào lấp đất vừa kín bầu và nén chặt. Sau đó cắm cọc chéo chữ X vào cây và buộc để tránh làm lay gốc làm chết cây.

3.2. Phân bón

*Bón lót: lượng phân thuốc sử dụng cho 1 hố trồng: 30 – 40 kg phân chuồng hoai mục + 0,3 – 0,5 kg lân + 0,1 - 0,2 kg Kali + Vôi bột 0,5 – 1 kg; thuốc sâu bột Diazan 10H…

*Bón thúc:

Lượng phân bón cho cây trong 1 năm

Tuổi cây

Phân chuồng (kg/cây)

Urê Kg/cây

Lân Kg/cây

Kali Kg/cây

1-3

20-30

0,1-0,3

0,3-0,5

0,2

4-6

30-50

0,4-0,5

0,6-1,2

0,3

7-9

60-90

0,6-0,8

1,3-1,8

0,4

Trên 10

100

0,8-1,5

2,0

0,5

Cách bón

- Cây từ 1- 3 tuổi: phân chuồng + phân lân bón vào tháng 12. Đạm urê và kali bón làm 3 lần:

+ Lần 1 vào tháng 1 - 2: 30% đạm;

+ Lần 2 vào tháng 4 - 5: 40% đạm + 100%kali;

+ Lần 3 tháng 8 – 9: 30% đạm. (thời gian bón còn tùy thuộc vào khí hậu từng vùng)

- Năm thứ 4 trở đi: phân chuồng + lân bón 1 lần vào tháng 12, tháng 1.

+ Thúc lần 1 vào tháng 1- 2: Khoảng từ 15/2-15/3: 40% đạm + 40% kali;

+ Thúc lần 2 vào tháng 4 - 5: 30% đạm + 30% kali;

+ Thúc lần 3 vào tháng 6 - 7: 30% đạm + 30% kali.

- Sau khi thu hoạch: bón theo vành mép tán, đào rãnh sâu 20cm, rộng 30cm. Các loại phân trộn đều cho vào rãnh lấp kín đất, tủ rơm giữ ẩm.

3.3. Nước tưới

Sau trồng hai ngày tưới 1 lần, khi cây xanh tốt trở lại 5 - 7 ngày tưới 1 lần. thời kỳ khô hạn, ít mưa nên tưới 3 - 5 ngày 1 lần.

3.4. Xử lý ra hoa

Nếu trồng theo phương pháp ghép cành thì sau 2 năm cây cho thu hoạch.

Để xử lý ra hoa nên ngưng tưới khoảng 2 - 4 tuần cho đến khi cây vừa “xào lá”. Sau đó tưới nước đẫm lại ba ngày liền, ngày tưới hai lần. Ngày thứ tư thì tưới mỗi ngày/lần. Sau khi tưới nước bộ lá tươi trở lại, pha 35ml RA HOA C.A.T + 15g F.Bo/8 lít hoặc kích phát tố hoa trái Thiên Nông 7g + 15g F.Bo/8 lít, phun sương đều tán cây và trong thân cây hai lần (5 ngày/lần) thúc ra hoa đồng loạt, sau khi cây ra đọt non tưới hai ngày/lần.

3.5. Tỉa cây

Khi cây có quả, sau mỗi lần thu hoạch cần đốn tỉa bỏ cành nhỏ, cành trong tán, cành sâu bệnh... và tiến hành thường xuyên tạo thuận lợi cho việc hình thành quả. Tỉa cành thông thoáng cũng hạn chế nhiều loại nấm bệnh trên cây.

4. Các loại sâu, bệnh hại chính

4.1. Các loài sâu hại

4.1.1. Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella)

- Triệu chứng: sâu hoạt động vào ban đêm, sâu non đục vào lá và trái gây nên những đường ngoằn ngoèo. Sâu phá hại ở tất cả các tháng trong năm nhưng nặng nhất từ  tháng 2-10. Sâu vẽ bùa là nguyên nhân gây nên bệnh loét trên cây.

- Biện pháp phòng trừ: Sử dụng 1 trong các loại thuốc: Bowing 666EC, Nugor Super 450EC,Trigard, Trebon….. có hiệu qủa phòng trị tốt sâu vẽ bùa. Bên cạnh các loại thuốc hóa học thì hiệu quả của dầu khoáng đối với sâu vẽ bùa cũng đã được khẳng định.

  4.1.2. Ngài chích hút trái

- Ngài chỉ gây hại trên cam ở giai đoạn trái chín bằng cách chích hút dịch trái bên trong vỏ trái. Vết chích có màu nâu, mềm do nấm bệnh và vi khuẩn tấn công làm trái thối vàng và rụng. Trái thối rụng sẽ hấp dẫn bướm từ nơi khác đến tiếp tục gây hại

- Biện pháp phòng trừ: Phironin 50SC, Gammalin Super 170EC …..

4.1.3. Rầy chổng cánh

- Rầy chổng cánh thường xuất hiện giai đoạn ra chồi non để gây hại và truyền bệnh Greening. Rầy non và trưởng thành chích hút nhựa ở các đọt non, chồi ngọn làm cho lá cong queo, nếu nặng lá và trái bị rụng. Thời gian xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 11 mật độ quần thể cao thường trùng vào các đợt lộc của cây

- Biện pháp phòng trừ: Cắt tỉa cành taọ bộ khung thông thoáng, ẩm độ thấp. Bón phân cân đối, tưới nước hợp lý, điều khiển cho cây ra các đợt lộc tập trung để hạn chế sự phát triển và gây hại của rầy chổng cánh. Nhổ bỏ những cây bị bệnh vàng lá Greening trong vườn đem tiêu hủy để giảm nguồn bệnh lây lan sang những cây khỏe.

Phun thuốc trừ: Khi rầy xuất hiện phun thuốc trừ lúc cây ra đọt non tập trung, có thể dùng các loại thuốc: Trebon 0,2%, Sherpa 0,2%, Anvado 100WP ( thuốc cung tên), dầu DC- Tron Plus, Isoprocarb (Mipcide), Buprofezin (Applaud), Isoprocarb (Bassa ...) hoặc dầu khoáng

4.1.4. Bọ xít xanh

- Bọ xít thường hoạt động vào buối sáng hoặc chiều mát, chúng thường hút chích nhựa của trái từ khi trái còn rất nhỏ. Chỗ vết chích có một chấm nhỏ và một quầng màu nâu. Nếu trái còn nhỏ đã bị bọ chích hút nhiều thì trái sẽ vàng, chai và rụng sớm. Nếu trái đã lớn mới bị bọ gây hại thì trái dễ bị thối rồi rụng.

- Biện pháp phòng trừ

Căt tỉa tạo cành thông thoáng, Thu thập và nhử nuôi kiến vàng trong vườn để kiến tiêu diệt bọ xít, nhất là bọ xít non. Dùng vợt tay để bắt bọ xít vào lúc sáng sớm hay chiều mát. Thường xuyên kiểm tra trái và những lá gần trái để phát hiện và thu gom ổ trứng của chúng đem tiêu hủy.

Nếu vườn cam rộng, bọ xít nhiều không thể bắt bằng vợt tay, có thể sử dụng một trong những loại thuốc như: Bascide 50EC, Hoppercin 50EC, Cyper 25EC, Dầu khoáng SK, Enspray 99EC, Vibasa 50EC, Sherpa 0,2%… để phun xịt.

4.1.5. Câu cấu

- Câu cấu là đối tượng rất nguy hiểm bởi với số lượng lớn, phàm ăn, chúng ăn cụt các đọt non, lá non, lá bánh tẻ (thậm chí cả lá già với loài Platymycterus sieversi) và quả non. Quả bị hại nặng có thể rụng, quả bị nhẹ làm vỏ quả biến dạng, giảm phẩm cấp thương phẩm quả. Câu cấu trưởng thành xuất hiện sau các đợt mưa khi cây đang ra lộc hè và lộc thu. Câu cấu phá hại lộc làm ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây, lộc thu nó còn làm giảm năng suất vườn cây năm sau.

- Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên kiểm tra vườn, dùng vợt hoặc tay bắt con trưởng thành để giết chết. Khi câu cấu xuất hiện nhiều cần phun thuốc Supracid 40EC nồng độ 0,25% hoặc Padan pha nồng độ 0,2% để phun

4.1.6. Nhện đỏ, nhện trắng

- Triệu chứng: Nhện chích hút trên lá non và trái non tạo thành những chấm li ti ở mặt trên lá, khi bị nặng lá mất màu xanh khô dần và rụng. Nhện chích hút biểu bì trái non làm cho vỏ trái bị sần sùi có màu vàng. Gây ra bệnh “da cám”.

- Biện pháp phòng trừ:Có thể sử dụng thuốc hoá học khi mật số Nhện đạt 3 con thành trùng /lá hoặc trái. Sử dụng các loại thuốc đặc trị Nhện, các loại thuốc trừ Sâu gốc Cúc hoặc Lân hữu cơ kết hợp với Dầu khoáng. Có thể sử dụng các loại thuốc như Comite, Trebon, Pegasus, Bi 58, Kelthane, Danitol, Ortus 5SC, Selecron 500EC/ND ……

4.2. Bệnh hại

4.2.1. Bệnh Bồ hóng

- Triệu chứng: Bệnh thường xuất hiện nơi râm mát, và đây là bệnh kế phát sau khi có sự hiện diện của côn trùng họ chích hút. Nấm phát triển trên bề mặt lá, cành non, tạo thành lớp đen dày che kín cả mặt lá, thân, trái.

- Biện pháp phòng trừ: Phun thuốc hóa học khi bệnh xuất hiện: Copper B75WP, Derosal 60 WP, Kumulus 80 DF, Champion 77 WP với nồng độ 0,2-0,5% phun 7-10 ngày/lần.

4.2.2. Bệnh loét lá, thân cành

- Triệu chứng: Đây là bệnh kế phát sau khi cây bị sâu vẽ bùa tấn công, do vi khuẩn Xanthomonas canpestris pv. citri gây ra. Bệnh xuất hiện với những vết bệnh lúc đầu nhỏ, hơi úng nước, có màu xanh đậm, sau đó vết bệnh lớn dần có màu vàng nhạt đến nâu nhạt, mọc nhô lên mặt lá, vỏ trái, hoặc vỏ cành. Kích thước vết bệnh từ 1-5 mm, vết bệnh có hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi, nhìn kỹ ở giữa vết bệnh có vết lõm xuống; nhiều vết bệnh liên kết lại tạo thành mảng lớn và bất dạng, quanh vết bệnh xuất hiện quần màu vàng. Bệnh nặng làm rụng lá, chết cành, trái sượng không phát triển hoặc rụng. Trong điều kiện ẩm độ cao trái bệnh bị nứt chảy nhựa cuối cùng trái vàng và rụng đi. Bệnh thường xuất hiện vào tháng 4-5, vào thời điểm cây đang ra trài non đến khi trước thu hoạch 2 tháng.

- Cách phòng trị

Trồng cây sạch bệnh. Cắt tỉa cành, lá, trái, bị bệnh và thu gom các lá trái bị bệnh rụng đem tiêu hủy trong muà khô, xa nơi canh tác  hay trước khi kích thích ra hoa.

Không tưới cây lên cao đối với những vườn bị bệnh.

Phun ngừa bằng các loại thuốc gốc đồng như Zincopper  50WP, Coc 85 WP với liều lượng 20-30g/8 lít, trước khi mùa mưa đến, hoặc trước khi tưới nước cho ra hoa.

Phun trị bệnh bằng các loại thuốc sau Score 250 EC, Kasuran 50 WP, New Kasuran 16,6 WP, Kasumin 2L, Starner 20 WP, Champion 77 WP với liều lượng 20-30g/8 lít, phun 7-10 ngày/lần.

4.2.3. Bệnh ghẻ nhám

- Triệu chứng: Bệnh gây hại trên lá, trái, cành; bệnh nhiễm rất sớm trên các bộ phận còn non của cây. Bệnh gây hại nặng trong lúc có ẩm độ và nhiệt độ cao hoặc trên vườn cây già thiếu chăm sóc. Vết bệnh lúc đầu nhỏ, tròn, màu xanh nhạt. Sau đó vết bệnh nhô lên, khi vết bệnh già trên đỉnh vết bệnh có màu vàng nhạt đến vàng nâu nhạt.

Ở lá vết bệnh thường nhô lên ở phía mặt dưới của lá làm lá cong lại hoặc bị vặn vẹo, lá bị biến dạng. Trên trái và cành vết bệnh nhô lên giống như trên lá. Bệnh nặng làm lá  nhỏ lại hoặc vàng và rụng, cành bị khô chết, trái sượng, méo mó. Bệnh nhẹ làm da trái, cành bị sần sùi màu vàng nhạt, có các vảy màu vàng cạo nhẹ sẽ tróc ra, vết bệnh giống như rắc cám lên vỏ trái nên còn được gọi lá bệnh “da cám”.

- Cách phòng trừ: thường xuyên vệ sinh vườn cây, cắt tỉa và thu gom các bộ phận bị bệnh đem tiêu hủy.

Phun ngừa khi cây ra đọt non hoặc khi  hoa rụng cánh 2/3 bằng thuốc gốc đồng hoặc gốc Sulfur (Sulfex 80WG)

4.2.4. Bệnh vàng lá thối rễ

- Triệu chứng: Bệnh do nấm Fusarium spp gây nên. Khi bệnh mới xuất hiện, lá của cây vẫn bình thường nhưng gân lá có màu vàng nhạt, phiến lá ngả màu vàng cam và dễ rụng, khi có gió lá già phía dưới bị rụng trước sau đó đến lá trên; Chất lượng trái kém và bị rụng sớm; Bệnh nặng làm chết cả cây. Bệnh này sẽ làm cho bộ rễ bị thối từ rễ nhỏ lan dần vào trong rễ lớn, rễ bị thối có màu nâu vỏ rễ tuột ra khỏi phần gỗ, bên trong có sọc nâu lan dần vào rễ cái, từ đó làm cành bị chết khô. Khi cây bị bệnh nặng, tất cả rễ đều bị thối đen và chết, cuối cùng là chết toàn cây.

Bệnh thường xuất hiện nhiều trong mùa mưa, ở những vùng đất bị ngập nước, thoát nước kém, bệnh phát triển mạnh trên những vùng đất có pH thấp. Những vườn thiếu chăm sóc, nông dân sử dụng nguồn cây giống trôi nổi, trong mùa nắng cây bị thiếu nước. Ở những vùng đất có tuyến trùng thì bệnh càng trầm trọng hơn

- Cách phòng trừ:

Xử lý đất kỹ trước khi trồng, tạo cành thông thoáng, kiểm tra vườn thường xuyên. Tiêu hủy những cây bị bệnh và xử lý đất chỗ cây bị bệnh.

Đối với cây mới chớm bệnh nên sử dụng một trong các loại thuốc sau: Aliette 80 WP, Ridomil 72WP, Benomyl 50WP, Norshield 86.2WG,… tưới cho cây. Ngoài ra có thể phòng trừ tuyến trùng bằng các loại thuốcnhư: Mocap 10G, Nisuzin 10G, Basudin 10H, Regent 0.3G,…

4.2.5. Bệnh vàng lá gân xanh

- Bệnh vàng lá Greening do vi khuẩn G- Candidatus Liberobacter asiaticus gây ra, tác nhân truyền vi khuẩn là Rầy chổng cánh (Diaphorina citri).

Triệu chứng: Lá bị khảm, gân xanh cứng, uốn cong ra ngoài như hiện tượng thiếu kẽm, nhánh bị khô, quả nhỏ, méo, dễ rụng,…

- Cách phòng trừ: trồng cây giống sạch bệnh, tiêu diệt rầy, có thể sử dụng Comcat 150WP để phòng bệnh

4.2.6.  Bệnh thối gốc chảy nhựa

- Triệu chứng: Do nấm Phytopthora sp gây ra. Lúc đầu bệnh làm vỏ của thân cây ở vùng gốc bị úng nước, thối nâu thành những vùng bất dạng, sau đó khô, nứt dọc, chảy mủ hôi. Cây bệnh ít rễ mảnh, rể ngắn, vỏ rễ thối rất dễ tuột, nhất là ở các rễ con, lá bị vàng. Nấm gây bệnh này cũng làm thối trái, nhất là trái ở gần mặt đất và thường thấy ở các vườn trồng dầy.

- Cách phòng trừ: Chọn gốc ghép chống chịu bệnh như Cam ba lá, Cam chua…, đất trồng phải ráo, không tủ cỏ rác hay bồi bùn lấp gốc, tránh gây thương tích vùng gốc và rễ. Nên theo dõi phát hiện bệnh sớm, cạo sạch vùng bệnh, bôi dung dịch thuốc tím 1% hay bằng các loại thuốc như Captan 75 BTN, Aliette 80 BHN, Copper Zinc, Copper B,…Thu gom, rải vôi và chôn sâu các trái rụng do bệnh là biện pháp quan trọng để hạn chế sự lây lan.

5. Thu hoạch và bảo quản

Khi quả có màu đỏ da cam và vàng lá cam 1/3 – ¼ diện tích vỏ quả thì thu hoạch, thu hoạch và ngày nắng ráo, dùng kéo cắt hạn chế rụng lá gãy cành. Sau khi thu hoạch không nên tưới ngay vì cây sẽ bị nấm bệnh xâm hại từ vết cắt.

Bảo quản nới thoáng mát tránh ánh nắng trực tiếp.

6. Chăm sóc cam sau thu hoạch:

Cam sau thu hoạch cần được chăm sóc, vệ sinh, cắt tỉa, phòng trừ sâu bệnh để cây tiếp tục phát triển.

- Tiến hành làm sạch cỏ dại, sau 25 - 30 ngày thu hoạch cắt tỉa các cành sâu bệnh, cành tược, khô héo, cành tăm hương, mọc không đúng hướng...

- Quét vôi vào gốc cây ngăn sự cư trú của sâu bệnh.

- Phòng trừ sâu bệnh bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp: bón phân đầy đủ, cân đối, kịp thời, bón đúng kỹ thuật, phun thuốc đúng lúc, đúng cách.

Trung tâm Ứng dụng Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng

Nguyễn Văn Quang