Tin mới

Quy trình trồng cây Dâu tằm

29/03/2017

QUY TRÌNH TRỒNG CÂY DÂU TẰM

I. Giới thiệu chung

1.1. Đặc điểm và yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh

1.1.1. Đặc điểm thực vật học:

Cây dâu tằm tên khoa học Morus alba L, là cây thân gỗ, sống lâu năm cây bụi hoặc cây to. Lá sớm rụng, có thể rụng hàng năm vào mùa đông, mọc cách, có răng cưa, có lá kèm ở gốc cuống lá, lá hình ngọn mác. Hoa nở theo cụm, đuôi sóc, hoa đơn tính, có ít hoa lưỡng tính trên cùng một cây hoặc khác cây, hoa đực và cái trên cùng một trục hoặc khác trục, thịt quả dày mọng nước. Thân cành nhiều nhựa không gai, trên thân cành có nhiều mầm, mầm đỉnh, mầm nách. Rễ ăn sâu và rộng 2-3 m, nhưng phân bố nhiều ở tầng đất 10-30 cm và rộng theo tán cây.

1.1.2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh:

Nhiệt độ thích hợp 24-320C, khi nhiệt độ trên 400C một số bộ phận của cây dâu bị chết, ở nhiệt độ 00C cây dâu ngừng sinh trưởng, nhiệt độ không khí tăng trên 120C thì cây dâu bắt đầu nảy mầm.

Ánh sáng: Là loại cây trồng ưa ánh sáng, năng suất chất lượng lá có quan hệ mật thiết với điều kiện chiếu sáng. Số giờ chiếu sáng 10-12 giờ/ngày là tốt nhất. Thiếu ánh sáng lá dâu mỏng, thân mềm yếu, chất lượng lá dâu kém. Cây dâu có thể hấp thu ánh sáng có độ dài từ 400-800µ.

Đất đai: Có khả năng thích ứng tốt với nhiều loại đất, tuy nhiên để có năng suất chất lượng lá tốt và kéo dài chu kỳ kinh doanh, cần chọn đất có bề dày tầng canh tác >1m, pH từ 6,5-7,0. Tuy nhiên cây dâu có khả năng thích ứng với pH từ 4,5-9,0. Cây dâu chịu mặn kém, ở những nơi có độ mặn thấp < 0,2% cây sinh trưởng tốt. Độ mặn ≥1% cây sẽ chết.

Nước và ẩm độ không khí: Là cây trồng tương đối chịu hạn, nhưng nếu thiếu nước thì cây ngừng sinh trưởng. Trung bình cứ 100 cm2 lá trong một giờ thì phát tán 1,8 gam nước. Điều đó chứng tỏ cây dâu có nhu cầu nước rất lớn. Ẩm độ thích hợp cho cây dâu sinh trưởng từ 70-80%.

1.2. Giới thiệu một số giống dâu tằm

1.2.1. Giống dâu bầu đen

Thân cây màu hơi nâu, ít cành, lá hình tim, lá nhỏ nhưng dày, sinh trưởng chậm, năng suất lá ở vùng Tây nguyên chỉ đạt 7-8 tấn /ha. Khả năng chống sâu bệnh và chống hạn tốt, lá giòn dễ hái, dễ bảo quản, trồng nhiều ở Tây Nguyên và Đông Nam bộ, phẩm chất lá tốt, nhân giống bằng hom có tỷ lệ sống cao. Thích ứng với vùng đất đồi.

1.2.2. Dâu VA-186

Dâu có nguồn gốc Ấn Độ, do Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Nông Lâm nghiệp Lâm Đồng chọn lọc và thuần hoá. Phẩm chất lá tốt, có sức đề kháng với sâu bệnh, kích thước lá lớn, dày, lợi công hái lá. Năng suất lá đạt khoảng 20 tấn/năm/ha.

1.2.3. Dâu Sa nhị luân 109

Đây là giống dâu tốt mới nhập nội các năm gần đây, hiện nay được trồng nhiều tại Sơn La, Quảng Ngãi, Bình Định, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Nảy mầm vụ xuân rất sớm nhưng vụ thu ngừng sinh trưởng sớm. Rất dễ nhiễm bệnh nấm hại lá. Cành mọc thẳng, ưa cắt đốn, lá dâu to, năng suất lá cao, bình quân 20-30 tấn/ha, thâm canh tốt đạt 60 tấn/ha. Phẩm chất tốt, tuổi thọ lá cao, có thể nuôi tằm con và tằm lớn đều tốt.

1.2.4. Dâu TBL-03

Dạng bụi, sinh trưởng mạnh, thân có vỏ màu tím đậm. Phân cành trung bình, chiều dài lóng trung bình. Lá nguyên hình tim, màu xanh nhạt phiến lá lớn, tốc độ ra lá cao. Chất lượng lá tốt. Năng suất có thể đạt từ 25 - 30 tấn/ha trong điều kiện thâm canh. Chống chịu khá với sâu bệnh hại, đặc biệt kháng rầy tốt. Nhân giống bằng hom.

1.2.5. Dâu S7-CB

Là giống dâu tam bội thể (3n). Dạng bụi, thân cây cứng, vỏ màu nâu nhạt, lóng ngắn, ít phân cành. Lá to, dày, màu xanh đậm, thời gian tồn tại của lá trên cây dài (có thể trên 40 ngày) và giữ được tươi lâu trong quá trình thu hoạch bảo quản. Năng suất có thể đạt tới 30 – 40 tấn/ha trong điều kiện thâm canh. Kháng bệnh rỉ sắt tốt. Nhân giống bằng hom. Đây là giống có tiềm năng, năng suất cao nhưng đòi hỏi phải thâm canh cao, thích hợp nuôi tằm lớn.

1.2.6. Dâu VA-201

Giống VA-201 có sức sinh trưởng mạnh, tổng chiều dài thân cành lớn. Lá to, khối lượng trung bình lá lớn. Tốc độ ra lá cao, dao động trong khoảng 0,31 lá/ngày.

Dạng bụi, thân cứng, vỏ màu nâu nhạt, lóng ngắn. Phân cành mạnh. Lá nguyên hình tim, màu xanh nhạt, kích thước lá trung bình, lá mỏng, mềm, nên thích hợp cho cả tằm con và tằm lớn.Năng suất có thể đạt từ 25 – 28 tấn/ha, trong điều kiện thâm canh. Năng suất lá phân bố đều qua các tháng trong năm. Khả năng chống chịu sâu bệnh khá đặc biệt với rầy gỗ hại ngọn và lá non. Nhân giống bằng hom.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

2.1. Thời vụ

Trong điều kiện ẩm độ đất đảm bảo có thể trồng quanh năm nhưng thời vụ trồng tốt nhất ở Lâm Đồng là đầu mưa từ tháng 4 – 5 dương lịch hoặc vào tháng 10 đến đầu tháng 11. Nếu trồng bằng cây con được nhân giống trong vườn ươm thì tốt nhất là tháng 4 hoặc tháng 5 để tránh phải tốn công tưới nước.

2.2. Chuẩn bị đất trồng và cây hom giống

2.2.1. Thiết kế lô dâu

Chọn đất bằng có độ dốc nhỏ hơn 150. Đất dốc dưới 60, dốc cục bộ 80 thiết kế hàng thẳng song song với đường bình độ chính. Đất dốc trên 60 thiết kế hàng dâu theo đường đồng mức, trong quá trình chăm sóc dần dần sẽ tạo thành các bậc thang hẹp để hạn chế xói mòn.

2.2.2. Làm đất

Đất được cày sâu 35-40cm trước khi trồng dâu 25-30 ngày để phơi ải và diệt cỏ dại. Những nơi mới khai hoang cần gom sạch rễ cây, cỏ dại. Sau khi cày đất và thiết kế lô thửa, tiến hành đào rãnh, rạch hàng, rộng 0,3-0,35m; sâu 0,35-0,4m và khoảng cách giữa các hàng là 1m. Vùng đồi núi chú ý rạch hàng theo đường đồng mức, vùng ven sông rạch hàng xuôi theo dòng nước chảy.

2.2.3. Bón lót trước trồng

Tùy theo chất đất tốt hay xấu mà quyết định lượng phân bón lót. Những vùng đất bạc màu cần phải kết hợp cải tạo đất trước khi trồng bằng cách bón vôi, lân, phân hữu cơ. Đối với những vùng đất nghèo dinh dưỡng lượng bón lót 15-20 tấn phân hữu cơ, phân lân nung chảy 700kg, 1 tấn vôi.

- Cách bón: ngay sau khi đào rãnh cho phân hữu cơ, lân và một phần đất vào rãnh trộn đều sau đó phủ thêm một lớp đất khoảng 5 cm ở trên mặt và tiến hành trồng. Trong trường hợp phân chưa hoai mục, sau khi trộn phân 10 – 15 ngày thì bón vôi và tiến hành trồng.

2.2.4. Chuẩn bị hom giống

Tuổi cây trong vườn ươm 60-70 ngày trở lên, chiều cao cây 30cm trở lên, đường kính thân cây con: 0,02cm trở lên, cây dâu không bị sâu bệnh, không lẫn giống.

Chọn hom ở những ruộng dâu tốt có tuổi cành từ 8 tháng đến 1 năm, không sâu bệnh, đường kính cành từ 0,6-1cm là tốt nhất, chặt bỏ phần ngọn. Nếu trồng dâu cắm đứng hom chặt dài 20-30cm, hom phải có từ 3 mắt trở lên, chặt vát 2 đầu cách mầm 2cm, không dập nát, bó lại theo một phía ngọn. Hom chặt xong nên trồng ngay cần phải bảo quản cẩn thận không bị héo. Phương pháp bảo quản tốt nhất là đào hố sâu khoảng 40cm, dài rộng tùy theo số lượng hom, hom được xếp quay ngọn lên phía trên, phủ cỏ rác và được tưới nước thường xuyên có thể bảo quản được 25 ngày. Không nên trồng những hom đã nảy mầm.

2.3. Kỹ thuật trồng

2.3.1. Trồng dâu bằng hom

Chọn hom không nhiễm bệnh, tuổi hom từ 8 tháng đến 1 năm, đường kính hom >0,5cm, hom phải có từ 3 mắt trở lên (hoặc dài 22cm) chặt vát, không dập nát, vết chặt cách mắt >2cm.

Cắm hom xiên áp dụng với đất có tỉ lệ sét cao và đất ẩm, cắm hom xiên 450 cắm sâu ¾ chiều dài hom vào trong đất – ¼ hom trên mặt đất. Cắm thẳng đứng áp dụng đất đồi có độ ẩm kém cắm hom thẳng đứng trong đất chiều dài hom được chôn trong đất chỉ chừa 1 mắt trên mặt đất.

2.3.2. Trồng dâu bằng cây con

Thời gian trong vườn ươm thường 50-60 ngày, khi cây trong vườn ươm đạt chiều cao 40-50cm, đường kính thân đạt 0,3cm trở lên thì nhổ đem trồng.

Cây con được cắt tỉa những phần đầu rễ bị dập nát, tuốt lá, cắt ngọn chừa lại  khoảng 25 – 30 cm (tính từ cổ rễ).

Khi đặt cây dâu không để rễ cây tiếp xúc trực tiếp với lớp phân bón ở rãnh, giữ cho rễ cây dâu con thẳng, không bị cuộn lại, lấp đất kín phần cổ rễ, nén chặt đất xung quanh gốc.

2.3.3. Mật độ trồng:Khoảng cách cây x cây:  0,25 - 0,30m; hàng x hàng 1-1.2m,  tương đương: 34.000 - 40.000 cây/ha.

2.3.4. Chăm sóc sau trồng

Làm cỏ thường xuyên cho dâu sau trồng, tránh va chạm vào cây khi làm cỏ.

Định hình cây và hái lá: tỉa để mỗi gốc từ 2 – 3 thân chính. Thường xuyên tỉa cành cấp 2.

Sau trồng 1 tháng bón đợt đầu tiên 150 kg urê/ha, sau đó định kỳ 1-1,5 tháng bón 1lần

Trong 6 tháng sau trồng, hạn chế hái lá (mục đích là để lá nuôi cây)

- Trồng dặm: chuẩn bị khoảng 5% - 10% số cây giống để trồng dặm thường xuyên

- Bảo vệ thực vật: chú ý phòng trừ dịch hại cho cây dâu con, đặt biệt là rầy búp hại dâu.

2.4. Kỹ thuật chăm sóc hàng năm

2.4.1. Làm cỏ

Nhìn chung  sau khi trồng mới cỏ dại phát triển rất mạnh chủ yếu là cỏ tranh, cỏ bò… nó không những tranh chấp dinh dưỡng và ánh sáng của dâu mà nó còn là nơi phát sinh ra các nguồn bệnh do vậy phải tiến hành làm cỏ kịp thời. Tùy điều kiện từng nơi 1 năm có thể làm cỏ 6 - 8 lần, nên kết hợp với việc dùng thuốc trừ cỏ như Gramaxôn, Roundup….phun vào lúc cỏ đang phát triển, lúc trời nắng và xới xáo vun gốc 1-2 lần/ năm.

2.4.2. Bón phân

a) Phân chuồng 

Có thể dùng nhiều loại như phân tằm, phân heo, phân gia cầm, phân trâu bò  v.v… để bón cho dâu. Liều lượng bón hàng năm tối thiểu 15-20 tấn/ ha. Phân chuồng chủ yếu bón trước hoặc sau khi đốn 15 ngày. Trước khi sử dụng phân hữu cơ nên ủ hoai để diệt mầm bệnh và cây dễ hấp thụ.

Riêng phân tằm là loại phân hữu cơ rất tốt có tỷ lệ đạm cao nhưng cũng chứa nhiều loại mầm bệnh, cần tiến hành ủ hoai mới dùng.

* Cách ủ: Phân tằm nguyên chất đưa xuống hố, mỗi lớp phân tằm dày khoảng 30 cm rải một lớp vôi có lân càng tốt có thể ủ với cỏ sau khoảng 45 ngày thì dùng được. Một tấn phân tằm ủ hoai tương đương với 3 tấn phân khác.

b) Phân vô cơ

Theo nguyên tắc mỗi lứa hái một lần bón. Lượng phân bón nên chia làm nhiều lần để tăng hiệu suất sử dụng phân bón. Khi bón phân vô cơ cho dâu cần chú ý bón kết hợp cả đạm, lân, kali. Thường bón theo tỷ lệ N: P: K là 2: 1: 1. Sau khi bón phân, nếu có điều kiện tưới nước 1-2 lần để cây hấp thu nhanh.

Thời gian bón và tỷ lệ bón các loại phân/năm với tổng lượng phân cả năm:650 kg Urê, 900 kg Lân, 250 kg Kaliclorua/ha (tỷ lệ 2:1:1).

Thời gian bón

Loại phân và tỷ lệ % so với cả năm

Ghi chú

Tháng 4

Đạm 30% + Ka li 30% + Lân 50%

 

Tháng 6

Đạm 30% + Ka li 30%

 

Tháng 8

Đạm 20% + Ka li 20%

 

Tháng 10

Đạm 20% + Lân 50% + Ka li 20%

+ phân chuồng 100%

Bón sau đốn

(Để tránh tằm bị ngộ độc nên thu hoạch lá sau khi bón phân từ 10 đến 12 ngày)

2.4.3. Tưới nước

Nếu có điều kiện tưới nước năng suất dâu sẽ tăng gấp 2 lần so với không tưới. Trong mùa khô nếu 15 - 20 ngày không có mưa tưới 1 lần. Nếu áp dụng phương pháp tưới tràn thì sau 2 - 3 lần tưới phải xới phá một lần. Khối lượng nước cho một lần tưới 350m3/ha. Tùy theo điều kiện thời tiết mà điều chỉnh chu kỳ tưới từ 15 – 20 ngày.

Ở những vùng đồi cao không có điều kiện tưới nước cần tích cực áp dụng các biện pháp giữ  ẩm như dùng cỏ rác phủ gốc dâu, vun gốc dâu v.v…trong mùa khô.

2.4.4.  Trồng xen

Do điều kiện khí hậu ở vùng đồi khô hạn về mùa khô, xói mòn về mùa mưa, lượng đất bị rửa trôi hàng năm là rất lớn khoảng trên 100 tấn/ha/năm do vậy trồng xen để giữ ẩm và chống xói mòn là hết sức cần thiết. Và đảm bảo cho cây trồng xen không hại đến cây dâu mà còn có tác dụng thúc đẩy cây dâu phát triển.

Vườn dâu có thể trồng các loại cây họ đậu thân thấp vừa tận dụng hạt, vừa tạo ra nguồn phân xanh tại chỗ vừa có tác dụng giữ ẩm chống xói mòn. Có thể trồng vào 2 thời vụ chính:

* Vụ xuân: Sau khi làm đất kỹ tiến hành gieo các loại cây họ đậu như: Đậu phộng, đậu đen nên gieo hạt vào trước ngày 20/4 để thu hoạch vào thời kỳ ít mưa. Sau khi thu hoạch tiến hành vùi thân lá vào gốc dâu.

* Vụ khô: Có thể gieo đậu mèo có khối lượng chất xanh rất lớn.

Ở những ruộng dâu chuyên canh có thể trồng xen cây họ đậu như đậu phộng (lạc), đậu xanh, đậu đen, vừa thu hoạch hạt, vừa cải tạo đất cho dâu. Song cũng cần chú ý rằng trồng xen trong dâu có thể làm tăng khả năng sâu bệnh của dâu. Vì thế chỉ nên trồng xen trong vụ đốn dâu, không nên trồng xen cây có chiều cao quá 1m, cây dây leo sẽ làm ảnh hưởng đến dâu.

II. Thu hoạch và bảo quản lá dâu

3.1. Thu hoạch lá dâu

Có 2 phương pháp thu hoạch hái lá và thu hoạch bằng cắt cành.

3.1.1  Phương pháp hái lá

- Là phương pháp thu hoạch cổ truyền, ta có thể chọn lá theo đúng yêu cầu của tằm, ít ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây dâu, giảm tỷ lệ sâu bệnh nhưng nhược điểm là rất tốn công lao động, dễ trầy xước vỏ cây, làm tổn thương các chồi nách.

- Đối với dâu tằm băng, tuổi 1 hái bấm để lại cuống lá trên thân.

- Tằm tuổi 2, tuổi 3 hái từng nắm xếp gọn vì sau khi hái phải thái nhỏ cho tằm ăn.

- Việc thu hái trong một lô dâu cần tập trung trong khoảng 7- 10 ngày, không nên kéo dài làm ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc của vườn dâu.

- Hái dâu cho tằm ăn tốt nhất vào 8-10 giờ sáng, không nên hái quá sớm hoặc buổi trưa.

Nếu không có tằm để ăn hết lượng dâu trên ruộng thì có thể áp dụng biện pháp hái nâng. Mỗi cây hái 2- 3 lá từ dưới lên sẽ hạn chế sự rụng lá làm mất sản lượng.

3.1.2.  Phương pháp thu hoạch bằng cách cắt cành

- Đỡ tốn công lao động, làm cho tươi dâu, dễ bảo quản, làm cho khoảng cách giữa các lứa nuôi dài hơn và vườn dâu có thời gian để chăm sóc.

- Phương pháp cắt cành chỉ nên áp dụng cho những vùng đất tốt, dâu sinh trưởng một năm có thể thu hoạch cành 5- 6 lứa. Những vùng đất nghèo dinh dưỡng nếu áp dụng biện pháp cắt cành thì phải có chế độ bón phân và chăm sóc thích hợp.

- Nếu thu hoạch cành, tằm tuổi 1- tuổi 3 tiến hành bấm ngọn, tuổi 4, tuổi 5 cắt toàn bộ. Cắt cành có thể dùng kéo, dao, liềm bó thành từng bó để vận chuyển và bảo quản.

3.2. Bảo quản lá dâu

- Lá dâu khi rời khỏi thân sẽ bị mất nước rất nhanh. Cùng với quá trình mất nước là quá trình phân hủy các chất dinh dưỡng và tỏa nhiệt. Nguyên tắc của quá trình bảo quản lá dâu là giảm nhiệt độ, tăng ẩm độ.

- Đối với lá dâu cho tằm con nên dùng chậu 2 tầng để chứa, tầng dưới đựng nước lạnh, trên chứa dâu xếp theo lớp và trên cùng phủ vải thấm nước.

- Dâu cho tằm lớn sau khi thu hoạch phải tiến hành bảo quản ngay. Dâu chất thành luống có chiều dày không quá 20cm. Tiến hành giữ ẩm bằng cách phủ vải thấm nước (không phủ bằng ni lông), cứ 4-2 giờ đảo 1 lần. Bằng phương pháp này có thể giữ dâu từ 2-3 ngày. Phòng bảo quản dâu phải thoáng mát, có cửa thông gió để giảm nhiệt độ của phòng.

IV. Kỹ thuật đốn dâu

4.1. Cơ sở khoa học

Cây dâu là loại cây có khả năng tái sinh rất mạnh. Nếu để cây sinh trưởng tự do lá nhỏ, năng suất thấp. Đốn dâu là một biện pháp kỹ thuật rất quan trọng nhằm kích thích cây dâu tái sinh phần thân cành bị mất, phục hồi trạng thái cân bằng sinh học. Sau khi đốn dâu, cây dâu sinh trưởng nhanh, cho lá to, phẩm chất tốt phù hợp với tằm. Đốn dâu còn là một biện pháp kỹ thuật để điều khiển dâu ra lá theo ý muốn.

4.2. Thời vụ đốn dâu

Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng của dâu sau đốn. Mỗi năm thường đốn 1 lần. Tốt nhất là vào tháng 10, tháng 11 hoặc đốn tháng 4, 5 khi bắt đầu có mưa.

4.3. Các hình thức đốn dâu

a) Đốn tạo hình

Có 3 kiểu tạo hình với chiều cao thân chính khác nhau:

·        Tạo hình cao: 80-90cm

·        Tạo hình trung bình: 30-40cm

·        Tạo hình thấp: 20-25cm

Dâu trồng sau 12 tháng bắt đầu đốn. Đối với dâu trồng khóm nên tạo hình dâu thân thấp chiều cao 20- 25 cm là vừa, tỉa bớt cành cấp 1, giữ mỗi khóm 5-6 cành. Sau lần đốn thứ nhất 12 tháng, đốn cành cấp 1 cách thân chính 5-6cm, mỗi cành cấp 1 có 3-4 mắt khỏe. Từ năm thứ 3 trở đi đốn cành cấp 2 cách vết đốn cũ 5-6cm. Sau 8- 10 năm khi bộ cành cấp 1, cấp 2 và cành sản xuất già và sức nảy mầm yếu cần tiến hành đốn trẻ lại.

b) Đốn thấp hàng năm

Áp dụng đối với dâu rạch. Hàng năm khi dâu ngừng sinh trưởng đốn sát mặt đất hoặc bới gốc đốn dưới mặt đất 5- 6 cm. Khi dâu nảy mầm vun gốc trở lại.

c) Đốn sát (đốn trẻ lại)

Dâu sau trồng 5-10 năm thường bị già hóa phần thân cành. Để dâu sinh trưởng tốt cho năng suất cao cần tiến hành đốn sát gốc trở lại, sau đó tạo hình như dâu trồng mới.

d) Đốn phớt, đốn lửng

Áp dụng khi dâu sinh trưởng chậm. Khi đốn chú ý nếu dâu lấy hom trồng mới thì chỉ đốn phớt ngọn 20cm. Nếu dâu không lấy hom thì có thể đốn lửng cao 1- 1,5m.

Sau lần đốn này thu hoạch dâu cành và đốn thấp trở lại.

Lưu ý: Vết đốn hơi vát tránh làm dập nát, xướt vết đốn ảnh hưởng đến sự nảy mầm và dễ bị sâu bệnh xâm nhập. Không nên đốn vào lúc trời mưa.

Chọn ngày trời râm mát để đốn dâu. Dụng cụ đốn tốt nhất là dùng máy đốn, dao. Mỗi cây một nhát, không làm dập nát vết đốn. Nếu đốn tạo hình hoặc đốn cao chú ý tỉa bỏ sạch cành nhỏ (cành tăm), bỏ những mầm dâu đã nảy trước khi đốn để dâu sinh trưởng đều.

4.4. Chăm sóc dâu sau đốn

Trước khi đốn dâu nếu có điều kiện nên bón phân tưới nước, để sau đốn dâu nảy mầm nhanh. Nếu không có điều kiện bón phân trước đốn thì sau đốn cần kết hợp làm cỏ, bới gốc, bón phân hữu cơ, vệ sinh đồng ruộng, sau đó tiến hành tưới nước.

Sau đốn 25-35 ngày tiến hành tỉa định mầm. Đối với dâu đang tạo cành cấp 1, cấp 2 tỉa bỏ mầm yếu, mầm bệnh, giữ lại số lượng mầm để tạo tán cho cây. Đối với dâu đốn thấp chỉ tỉa bỏ mầm yếu, giữ lại tất cả những mầm có khả năng cho năng suất.

Dâu sau đốn thường xuất hiện sâu bệnh nên phải chú ý phòng trừ  kịp thời. Khi dâu ra lá thứ 8 - thứ 10 có thể định sản sơ bộ và tiến hành băng tằm.

V. Phòng trừ sâu bệnh hại dâu tằm

5.1. Bệnh bạc thau (Bệnh phấn trắng)

5.1.1. Triệu chứng bệnh:

Bệnh có thể phát triển trên lá dâu non, lá bánh tẻ, lá già. Lá bị bệnh, chất lượng sẽ bị giảm; khi bị nặng lá khô, nhanh vàng và rụng. Vết bệnh ban đầu là những vết trắng bạc nằm ở mặt dưới lá, đó là những sợi nấm phát triển trên bề mặt lá. Gặp điều kiện thuận lợi, sợi nấm mọc khắp bề mặt dưới của lá, tạo cho mặt lá có một lớp trắng như phấn – ít khi phát triển trên mặt trên lá. Khi các sợi nấm chuyển dần sang màu nâu tối, mặt lá xuất hiện nhiều hạt đen nhỏ (quả thể của nấm), đồng thời lá mất dần màu xanh, lá chuyển dần sang màu vàng và rất nhanh rụng. Sự lan truyền của bệnh chủ yếu bằng con đường phát tán sợ nấm và bào tử phân sinh.

Nấm phát triển gây bệnh nặng trong điều kiện ẩm độ không khí cao, ít mưa, nhiệt độ trong khoảng 23-250C

Nguyên nhân: Trên những chân ruộng bón ít phân hoặc bón phân không cân đối (thiếu lân và kali), bệnh sẽ phát triển nặng.

Mật độ trồng cao, thu hái lá không kịp thời, ruộng không được vệ sinh cỏ dại sạch sẽ, bệnh sẽ phát triển rất nặng.

Bệnh hại trên tất cả các giống dâu hiện có. Tuy nhiên một số giống có khả năng chịu bệnh cao là: giống S7-CB, giống Bầu đen.

5.1.2 Biện pháp phòng trừ:

-  Biện pháp giống: sử dụng những giống dâu chịu bệnh như S7-CB

-  Biện pháp canh tác:

 + Đốn dâu: đốn dâu hàng năm. Đốn đúng thời vụ: Lâm Đồng đốn thích hợp nhất là vào tháng 3 – tháng 4.

 + Xử lý tàn dư nguồn bệnh: sau đốn dâu cần thu gom sạch thân cây dâu, cày lật đất toàn bộ diện tích để lấp hết những lá bệnh trên ruộng.

 + Vệ sinh đồng ruộng: thường xuyên cắt tỉa, làm sạch cỏ dại tạo thông thoáng cho ruộng dâu.

 + Thu hái: mùa dịch hại phát triển cần rút ngắn thời gian thu hái giữa 2 lứa dâu.

 + Bón phân: bón phân đầy đủ và cân đối cho cây dâu để dâu tăng khả năng đề kháng với bệnh.

-  Sử dụng thuốc hoá học: Phun Benlat-C để diệt nguồn bệnh trên đồng ruộng sau đốn. Phun Benlat-C, hoặc Anvil - 5SC định kỳ 20 ngày/lần. Thời gian cách ly của thuốc đối với tằm là từ 7 đến 10 ngày.  

5.2. Bệnh gỉ sắt

5.2.1. Triệu chứng của bệnh:

Bệnh gây hại ở lá dâu, cuống lá và ngọn dâu. Hiện nay có 2 loại bệnh gỉ sắt:

-  Bệnh gỉ sắt đen: vết bệnh ban đầu là những chấm trong màu giọt dầu, sau chuyển nâu đen, vết bênh nhỏ. Khi bệnh nặng, các chấm đen phủ kín mặt lá, nhưng các vết bệnh không liền nhau. Bệnh làm giảm dinh dưỡng của lá, lá nhanh rụng. Bệnh hại chủ yếu trên lá, rất ít khi hại trên cuống lá và thân.

-  Bệnh gỉ sắt đỏ: vết bệnh ban đầu là những chấm trong màu giọt dầu, sau vết bệnh lớn dần và chuyển sang màu vàng. Vết bệnh phát triển lớn dần và đẩy rách lớp biểu bì lá để lộ ra một ổ bào tử dạng bột màu vàng cam.

+ Trên ngọn: vết bệnh phát triển trên đoạn thân non. Nơi vết bệnh phát triển, thân phình ra, ngọn cong lại dị hình. Vết bệnh để lại trên thân có hình bầu dục. Khi bệnh phát triển mạnh, vết bệnh nhiều, chúng phá hoại mạch dẫn của phần ngọn dâu làm cho ngọn dâu không được cung cấp dinh dưỡng dẫn đến ngọn bị đui.

+ Trên lá: bệnh phát triển trên bề mặt lá, vết bệnh thường tập trung dọc theo gân lá. Khi bệnh nặng, vết bệnh có thể phủ kín mặt lá, tuy nhiên các vết bệnh không liên kết với nhau. Bệnh làm giảm chất lượng lá rất lớn.

+ Trên cuống lá: bệnh phát triển ở mọi vị trí, bệnh làm phá vỡ các mạch dẫn ở cuống lá làm cho lá nhanh vàng và rụng.

Nấm bảo tồn ở dạng sợi, có khi bào tử. Khi điều kiện thuận lợi nấm phát triển nhanh và lây lan. Quá trình lây lan chủ yếu do sự phát tán của bào tử nhờ gió và mưa. Bệnh phát triển mạnh trong mùa mưa, điều kiện nhiệt độ 20-250C.

Cả hai loại bệnh gỉ sắt hại nặng trên các chân ruộng kém dinh dưỡng.

Bệnh gây hại trên tất cả các giống dâu. Tuy nhiên, một số giống có khả năng chịu bệnh tốt như giống S7-CB.

Trên những chân ruộng không được vệ sinh cỏ dại sạch sẽ, bệnh cũng rất nặng.

5.2.2. Biện pháp phòng trừ:

-  Biện pháp giống: sử dụng những giống dâu chịu bệnh như S7-CB, giống VA-201 (giống này nhiễm bệnh nặng, nhưng do khả năng tái sinh và phát triển của giống rất mạnh, nên nếu thu hái kịp thời thì thiệt hại do bệnh gây ra không lớn)

-  Biện pháp canh tác:

 + Đốn dâu: đốn dâu hàng năm. Đốn đúng thời vụ – Lâm Đồng tuyệt đối không đốn vào giai đoạn từ tháng 6 đến đầu tháng 10 hàng năm.

 + Xử lý tàn dư nguồn bệnh: sau đốn dâu cần thu gom sạch thân cây dâu, cày lật đất toàn bộ diện tích để lấp hết những lá bệnh trên ruộng.

 + Vệ sinh đồng ruộng: thường xuyên cắt tỉa, làm sạch cỏ dại tạo thông thoáng cho ruộng dâu.

 + Thu hái đúng thời vụ.

 + Bón phân: bón phân đầy đủ và cân đối cho cây dâu làm cho cây dâu tăng sức đề kháng với bệnh.

-  Sử dụng thuốc hoá học: Phun Anvil diệt nguồn bệnh sau khi đốn. Dùng Anvil -5SC, Kasuran - 47WP, Ridomil Gold - 68WG,… phun sau mỗi lần hái lá, hoặc khi cành mọc được từ 10 -15cm. Thời gian cách ly của thuốc đối với tằm là từ 7 đến 10 ngày.  

5.3. Bệnh nấm trắng hại hom và rễ

5.3.1.Triệu chứng bệnh trên hom:

Trên hom vết bệnh có biểu hiện một vài đối nấm trắng hoặc dạng sợi nấm bám vào hom có dạng đối xứng. Khi cắt hom đem trồng, tại vết cắt biểu bì hom bị nấm thối và lan dần ra toàn bộ hom.

Thông thường hom dâu bị bệnh khi trồng sẽ thối trước khi ra rễ, cũng có khi cây dâu nảy mầm ra rễ rồi vẫn có thể bị chết do nấm trắng. Trong điều kiện nhiệt ẩm thích hợp sợi nấm phát triển mạnh, hom dâu càng thối nhanh, vì thế hom bị chết luôn mà không kịp ra mầm và rễ.

Nguyên nhân gây bệnh là do nấm Corticium centrifugum Bres gây nên, sợi nấm lúc đầu có màu trắng, sau đó già có màu hơi nâu.

Nấm trắng hại hom có khả năng thích ứng trong phạm vi rộng từ nhiệt độ tù 16-270C, độ pH đất 4-5, nhưng thích hợp với nhiệt độ 22-250C. Trong điều kiện thuận lợi này, nấm sẽ phát triển rất nhanh. Nấm có thể tồn tại trong đất từ 5-10 năm vẫn nảy mầm được.

5.3.2. Triệu chứng bệnh trên rễ:

Sợi nấm bao bọc xung quanh mặt ngoài của rễ giống như lớp sợi bông màu trắng. Phần sợi nấm lộ ra ngoài khỏi mặt đất, khi tiếp xúc với không khí chuyển thành màu tro xám. Sợi nấm xâm nhâp vào rễ tơ, rễ con phá hủy tế bào, sau đó xâm nhập vào rễ chính làm cho hệ thống lông hút các chất dinh dưỡng không hoạt động được. Phần tiếp giáp giữa thân cây dâu và mặt đất hình thành các bó phân sinh bào tử không màu, dạng hình trứng.

Bệnh do một loại nấm gây ra có tên khoa học là Rosellinia necatrix Berlesse. Cây dâu bị nấm xâm nhiễm thường yếu dần, khả năng nảy mầm giảm, kéo dài. Vào mùa hạ, lá chuyển dần sang màu vàng và rụng. Vào mùa đông, nhiệt độ hạ xuống thấp nên cây dâu dễ bị chết.

5.3.3. Biện pháp phòng trừ: 

Biện pháp canh tác:

+ Xử lý tàn dư nguồn bệnh: Làm đất, cầy lật phơi ải trước khi trồng. Kết hợp với một số loại phân bón như (CaCN) với hàm lượng 20-22% N và trên 60% C trước khi đặt hom 10-15 ngày, với kiều lượng 700-900kg/ ha

+ Xử lý giống trước khi trồng:

- Hom trước khi trồng phải đem xử lý với dung dịch lưu huỳnh vôi với nồng độ 0,3-0,5 hoặc Booc đô 1% có tác dụng diệt nấm rất tốt.

- Rễ nhúng trong dung dịch clorua đồng 1% hoặc nước vôi trong 1 giờ, sau đó rửa sạch bằng nước sạch rồi trồng.

+ Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, nếu phát hiện có nấm bệnh với ruộng trồng mới cần cho 10 tấn vôi/ha rồi mới tiến hành trồng dâu.

+ Vùng đất có nấm bệnh không bón phân hữu cơ chưa hoai mục, vì dễ tạo điều kiện cho nấm bệnh phát triển

Biện pháp hoá học:Phun thuốc xử lý đất, rãnh dâu trước khi trồng bằng Xerezan 0,1% hoặc Phalizan 0,1 % có tác dụng diệt nấm trong dất và không ảnh hưởng đến cây dâu.

5.4. Bệnh đốm vòng

5.4.1.Triệu chứng bệnh:

Lá dâu bị bệnh có biểu hiện đốm tròn sáng, những lá bị nặng có thể bị mất diệp lục tạo thành những vùng khảm xanh đậm nhạt và cuộn xoắn.

Cây dâu bị lùn, lá bị khảm và biến dạng hay tạo các sọc xanh trên ngọn thân và cuống lá. Ở mặt trên của các lá gần đỉnh sinh trưởng, vùng mô lá ở giữa gân phụ và gân nhánh bị căn phồng. Trên mặt lá non bị cuốn vòng vào theo mặt dưới lá, trên mặt lá già thì cuốn lên.

Nguyên nhân phát bệnh là do virut papaya ringspot gây nên.

5.4.2.Biện pháp phòng trừ: 

Biện pháp giống: sử dụng những cây dâu không bị bệnh, không dùng cành của cây bị bệnh làm hom giống, gốc ghép, nên trồng các giống được nhân giống bằng hạt.

Biện pháp canh tác:

 + Xử lý tàn dư nguồn bệnh: Nhổ bỏ và đốt cây bị bệnh, hố nhổ cây bị bệnh được xử lý bằng vôi bột để hạn chế lây lan sang cây không bị bệnh.

 + Vệ sinh đồng ruộng: thường xuyên cắt tỉa, làm sạch cỏ dại tạo thông thoáng cho ruộng dâu.

 + Thu hái đúng thời vụ.

 + Bón phân: bón phân đầy đủ và cân đối cho cây dâu làm cho cây dâu tăng sức đề kháng với bệnh.

+  Phun thuốc diệt côn trùng mô giới truyền bệnh

Sử dụng thuốc hoá học: Phun Anvil 5SC diệt nguồn bệnh sau khi đốn. Dùng Anvil 5SC, Kasuran 47 WP, Ridomil Gold 68WG,… phun sau mỗi lần hái lá, hoặc khi cành mọc được từ 10 -15cm. Thời gian cách ly của thuốc đối với tằm là từ 7 đến 10 ngày.  

5.5. Rầy búp hại dâu

5.5.1. Đặc điểm gây hại của rầy:

Rầy trích hút chủ yếu trên phần non của cây: ngọn, lá non, thân non. Rầy hút nhựa cây tạo cho cây bị những vết thương cơ giới màu nâu đen. Nếu thân cây hoặc lá non bị nhiều vết thương sẽ làm cho lá và thân biến dạng. Nếu mật độ rầy cao trên lá sẽ làm cho lá vàng và rụng; trên cuống lá làm cuống lá hỏng mạch dẫn dinh dưỡng nuôi lá làm lá nhanh vàng và rụng; trên ngọn là cho ngọn không đủ dinh dưỡng để phát triển, dẫn đến ngọn bị teo đi và mất khả năng ra lá.

Rầy hút nhựa cây và thải ra chất thải ngay trên mặt trên của những lá dưới, chất thải này là môi trường rất thuận lợi cho nấm muội đen phát triển. Khi nấm muội đen phát triển, lá cây mất dần khả năng quang hợp dẫn đến lá bị giảm dần dinh dưỡng, lá nhanh bị rụng.

Rầy tồn tại quanh năm trên đồng ruộng, tập trung gây hại mạnh vào các tháng có ít mưa, nhiệt độ không khí trên 180C.

5.5.2. Biện pháp phòng trừ:

Biện pháp đốn dâu: đốn dâu đồng loạt để hạn chế nguồn rầy từ vụ trước.

Biện pháp hoá học: sử dụng luân phiên thuốc Bassa, Mipcin phun cho dâu khi mật độ rầy lên cao (trên 20 rầy non trên 1 ngọn, tỉ lệ trên 40- 50% ngọn nhiễm rầy).

 Có thể sử dụng hỗn Bassa 50EC, Mipcide 20 EC với Suprathion phun trừ rầy vào thời điểm sau hái lá. Thời gian cách ly của thuốc từ 15 đến 20 ngày.

5.6. Các loại sâu hại dâu

5.6.1. Sâu khoang

Sâu khoang là loài ăn tạp, tuổi nhỏ ăn lá dâu bánh tẻ, lớn dần chúng chuyển sang ăn lá non và ngọn dâu.

Giai đoạn sâu non: tuổi nhỏ chúng có đặc điểm thay đổi màu sắc từ xanh lục đến nâu vàng, sau chuyển dần sang màu xám hoặc đen, trên mỗi đốt ở 2 bên có chấm màu đen sẫm.

Trứng được đẻ thành ổ trên lá dâu, mặt trên ổ trứng được phủ một lớp lông mịn. Sâu non tuổi nhỏ sống quần tụ, sau phân tán dần.

Hiện nay loài này gây hại trên đồng dâu không lớn. Tuy nhiên, đây là loài nguy hiểm, bởi ngoài việc gây hại trên cây dâu ra, sâu còn xâm nhập vào phòng tằm qua lá dâu là đối tượng truyền bệnh bủng mủ và ăn cả tằm – nhất là tằm nhỏ.

5.6.2. Sâu đo

Trên cây dâu có nhiều loại sâu đo; tuy nhiên mức độ gây hại không đáng kể. Nguy hại nhất của loài này là chúng có chung nguồn bệnh với tằm, chúng rất dễ nhiễm một số loại bệnh như bệnh bủng, bệnh đường ruột và bệnh vôi; đây là nguồn bệnh rất nguy hiểm cho tằm.

5.6.3. Sâu róm

Sâu róm gây hại trên cây dâu rất đa dạng về loài. Tuổi nhỏ có tập tính sống quần tụ thành đàn, tuổi lớn chúng sống phân tán dần.

Chúng là loài ăn tạp. Trên cây dâu chúng chủ yếu ăn lá. Mật độ trên đồng chưa cao, nên chúng không gây thiệt hại cho năng suất dâu đáng kể.

Sâu róm dễ truyền nhiễm một số loại bệnh như: bệnh vi khuẩn, bệnh nấm vôi. Chúng cũng là nguồn bệnh rất nguy hại cho tằm.

Ø  Cả 3 loại sâu trên không có biện pháp phòng trừ riêng. Khi sử dụng thuốc trừ rầy sẽ làm giảm mật độ đáng kể 3 loại này.

5.7. Sên, nhớt

5.7.1. Đặc điểm

Sên nhớt không có lớp vỏ cứng bao bọc bên ngoài, nhưng chúng có một lớp nhớt rất dầy bao phủ toàn thân, khi gặp điều kiện bất lợi (thuốc sâu hoặc chất độc khác), chúng lột bỏ lớp nhớt bên ngoài để thoát thân.

Màu sắc của sên thay đổi phụ thuộc điều kiện sống. Chúng là loài ăn tạp, chúng ăn chủ yếu là mùn. Khi gặp điều kiện không thuận lợi về thức ăn chúng chuyển sang ăn thực vật sống. Trên cây dâu, chúng chủ yếu ăn lá non và ngọn dâu.

Trên đồng nhiều cỏ dại, trời mưa nhiều và kéo dài, chân ruộng ít được cày lật đất là điều kiện thuận lợi cho sên phát triển.

5.7.2. Biện pháp phòng trừ:

Hiện nay trên thị trường có một số loại thuốc trừ sên. Nhưng rất nguy hiểm cho tằm nên hạn chế sử dụng phòng trừ sên nhớt trên cây dâu.

Biện pháp canh tác: làm cỏ thường xuyên. Không tạo lớp mùn dầy trên mặt ruộng trong mùa mưa. Đốn dâu khi trời đã chuyển khô, sau đốn cần cày lật đất để tạo thông thoáng cho đất, hạn chế trứng sên. Khi mật độ sên cao, có thể đặt những mô mùn quanh ruộng dâu để làm mồi dẫn dụ (đặt mô mùn xa gốc dâu), sau đó hàng ngày bắt bằng tay, hoặc khi sên tập trung nhiều trong đống mùn thì có thể đốt mùn diệt sên. Sên bắt được mang tập trung vào hố, đổ vôi bột lên và lấp đất lại.

* LƯU Ý: Một số nguyên tắc trong phòng trừ dịch hại dâu

1. Biện pháp canh tác

- Tạo cho ruộng thoát nước, nhưng chống xói mòn tốt.

- Trồng dâu đúng kỹ thuật.

- Bón phân cân đối và đủ lượng nước cho dâu.

- Cày toàn diện tích sau khi đốn, xới xáo thường xuyên làm cho đất thông thoáng, loại bỏ nơi cư trú của dịch hại.

- Hái dâu đúng lứa.

- Đốn dâu đúng thời vụ, sau đốn thu gon sạch thân dâu, tán dư sâu bệnh đ diệt nguồn dịch hại.

2. Sử dụng giống chống chịu

Sử dụng các giống dâu có khả năng kháng bệnh tốt, phù hợp với từng vùng sinh thái.

3. Biện pháp hóa học (theo phương pháp 4 đúng)

a. Sử dụng đúng thuốc:

- Không sử dụng những thuốc chưa có hướng dẫn cụ thể cho dâu.

- Không sử dụng thuốc nằm trong danh mục thuốc cấm sử dụng.

b. Sử dụng đúng liều lượng:

- Sử dụng đúng nồng độ

- Sử dụng đứng thuốc trên diện tích

- Sử dụng đúng lượng nước

c. Sử dụng đúng thời điểm:

- Sử dụng khi cáo mức độ thiệt hại do dịch hại gây ra ở ngưỡng phải phòng trừ.

- Phun đúng giai đoạn dịch hại mẫn cảm với thuốc

- Phun vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát

d. Sử dụng đúng cách:                   

- Sử dụng luân phiên giữa các thuốc.

- Phun thuốc phải đảm bảo thời gian cách ly an toàn với tằm.

- Phun thuốc phải đi lùi chiều ngược gió, vòi phun xuôi theo chiều gió.

- Phun thuốc phải đồng loạt trên toàn cánh đồng.

 Trung tâm Ứng dụng KH&CN Lâm Đồng

Lê Văn Quyền